Trị sẹo rỗ do trứng cá

Trứng cá khá phổ biến, chiếm 80% ở tuổi thanh- thiếu niên và hậu quả trứng cá lâu dài là để lại sẹo với tỷ lệ khá cao. Sẹo do trứng cá bao gồm: sẹo lõm, sẹo phì đại và sẹo lồi. Trong đó, sẹo rỗ (sẹo lõm - atrophic scar) là phổ biến nhất.

PGS, TS, BS. Đinh Văn Hân

1/ Sẹo lõm là gì?

     Sẹo lõm là vết sẹo thụt vào dưới lớp da bình thường. Sẹo lõm hình thành khi da không thể tái tạo đủ lớp mô trong quá trình bị thương tổn . Sẹo lõm thường là kết quả của mụn trứng cá nặng hoặc thủy đậu. Sẹo cũng có thể hình thành sau khi loại bỏ nốt ruồi. 

2/ Các hình thái sẹo lõm 

     Sẹo lõm nhỏ nhọn (Ice Pick Scar): Những vết sẹo này nhỏ và hẹp, giống như lỗ chân lông sâu. Đây là những vết sẹo sâu thẳm, có thể trông giống như một lỗ chân lông lớn. Chúng xảy ra khi viêm gây ra collagen dưới bề mặt da bị sụp đổ, để lại sẹo sâu.

     Sẹo lõm lớn hình hộp (Boxcar Scar). Các vết lõm hình hộp trông giống như sẹo thủy đậu. Chúng có đáy phẳng và đường viền xác định. Những vết sẹo này là những ổ khuyết  rộng với các cạnh được xác định rõ hơn. Vết sẹo xảy ra khi tổn thương dạng nang (cyst) nang phá hủy cả các tế bào mỡ dưới da dẫn đến một vết lõm lớn.

     Sẹo lõm hình chảo (Rolling Scar): Loại vết sẹo này không có bờ mép rõ rệt, thường thấy ở vùng má. Vết sẹo với các bờ vòng cung theo hướng ngời vào trong, và thường tập hợp một số sẹo trong một khu vực gần làm cho chúng trông giống như một vết sẹo liên tục, nhấp nhô. Những vết sẹo này gây ra khi lớp mô dưới da (lớp dưới biểu bì) tạo ra mô xơ kéo các lớp trên xuống.

3/ Lăn kim trị sẹo lõm

     Lăn kim còn được gọi là Phi kim, Châm kim; Vi châm kim…tất cả đều là Trị liệu cảm ứng tổng hợp collagen da. 

     Thiết bị lăn kim gồn một con lăn với hàng trăm kim nhỏ, tạo ra hàng ngàn các vi lỗ  trong da sâu tới lớp nhú và đến giữa trung bì.

     Với kỹ thuật này, sẽ khởi động một quá trình rất phức tạp của các yếu tố tăng trưởng tự thân  mà cuối cùng dẫn đến sản xuất collagen của da.

     Kết quả thường bắt đầu thấy ngay sau lần làm đầu tiên nhưng rõ nhất là sau khoảng 6 tuần. Tác dụng cảm ứng collagen đầy đủ có thể cần ít nhất ba tháng do sự lắng đọng collagen mới diễn ra chậm. Kết cấu da sẽ tiếp tục cải thiện trong khoảng thời gian 12 tháng. 

     Các vết sẹo thích hợp nhất để điều trị bằng lăn kim cũng giống chỉ định của tái tạo bề mặt bằng laser phân đoạn (fractional laser)là sẹo mụn trứng cá hình chảo và sẹo lõm lớn hình hộp mức độ nông.

     So với các kỹ thuật tái tạo bề mặt khác, kỹ thuật này có nhiều ưu điểm. Đầu tiên, nó được coi là an toàn cho tất cả các loại da và có nguy cơ gây tăng sắc tố sau viêm thấp nhất khi so sánh với tái tạo bề mặt bằng laser, lột da hóa chất, hoặc mài mòn da (dermabrasion). Thứ hai, việc điều trị không dẫn đến việc tạo ra một ranh giới phân biệt giữa vùng điều trị và vùng da da không được điều trị. Thứ ba, thời gian phục hồi chỉ từ 2 đến 3 ngày, ngắn hơn đáng kể so với các kỹ thuật tái tạo bề mặt khác. Cuối cùng, để có kết quả tương tự thì lăn kim ít tốn kém hơn so với laser phân đoạn (fractional laser) hoặc mài mòn da (dermabrasion). 

4/ Lột da hóa chất

     Lột da vùng sẹo có thể giúp làm giảm sự xuất hiện của vết sẹo bằng cách loại bỏ lớp da trên vùng sẹo. Tùy loại hóa chất và cách thức mà có các loại lột da hóa chất như sau:

              - Lột da mức độ nông trên bề mặt có thể dùng bộ dụng cụ có chứa hóa chất liên quan đến alpha hydroxy , kỹ thuật này thực hiện nhanh  nhưng chúng chỉ có tác dụng bề ngoài. 

              - Lột da mức độ trung bình có thể thực hiện tại nhà thông qua bộ dụng cụ chế tạo sẵn (kit) có chứa axit glycolic để lột. Các loại khác có thể có dung dịch của Jessner hoặc axit tricloaxetic (TCA).   

              - Lột da mức độ sâu có kết quả tốt nhất, nhưng các hiệu ứng mạnh mẽ có thể làm cho da bạn bị đỏ và bị kích ứng. 

     Tất cả các loại lột da hóa chất đều làm tăng độ nhạy của ánh nắng mặt trời, đặc biệt các trường hợp lột sâu làm tăng nguy cơ bị cháy nắng. Đây là kỹ thuật hay được tiến hành tại các Spa hay tại nhà. Trên thực tế, Hiệp hội Phẫu thuật Da liễu Hoa Kỳ khuyến nghị bạn tránh ánh nắng mặt trời trong vòng từ ba đến sáu tháng sau khi có lột sâu. Cũng không nên sử dụng lột da hóa chất nếu bạn có làn da nhạy cảm hoặc gần đây có dùng thuốc trị mụn.

     Các hóa chất lột và khả năng lột và cách thức thực hiện bao gồm:          

Mức độ thâm sâu hóa chất
Tác dụng
Hóa chất
Rất nông
Tiêu hủy tầng lớp sừng mà không tạo ra vết thương dưới lớp hạt

Glycolic acid, 30% - 50%, đắp từ 1 - 2 phút. Dung dịch Jessner đắp từ 1 - 3 lớp. TCA 10%, đắp 1 lớp.

Nông

Tiêu hủy một phần hoặc toàn bộ lớp biểu bì, từ lớp hạt đến lớp tế bào đáy

Glycolic acid, 50% - 70%, đắp 2 - 20 phút. Dung dịch Jessner đắp từ 4 - 10 lớp. TCA, 10% - 30%

Trung bình

Tiêu hủy lớp biểu bì và một phần hoặc toàn bộ lớp biểu bì nhú

Glycolic acid 70%, applied for a variable time (3 to 30 minutes). TCA, 35% to 50%. Augmented TCA (CO2 plus TCA 35%; Jessner solution plus TCA 35%; glycolic acid 70% plus TCA 35%)

Sâu

Phá hủy lớp biểu bì và nhú trung bì, lan xuống tận  lưới trung bì

Phenol 88%. Dung dịch Baker-Gordon phenol

4/ Kỹ thuật CROSS

     Một lựa chọn điều trị khác thay thế cho các cách thức lột da trên là dùng kỹ thuật CROSS. TCA (50 - 100%) được áp dụng cho vết sẹo bằng dụng cụ thấm được TCA. Kỹ thuật này tạo ra đáp ứng viêm, tiếp theo là sự tạo thành collagen, dẫn đến giảm sự xuất hiện sẹo và cải thiện thẩm mỹ. Nó đã được cho là một kỹ thuật an toàn, hiệu quả về chi phí và ít xâm lấn. Kỹ thuật TCA CROSS thích hợp nhất để điều trị chọn băng hoặc sẹo hộp nhỏ.

     Kỹ thuật CROSS dùng cho sẹo nhỏ nhọn, đòi hỏi phải kéo dãn da và sử dụng dụng cụ thâm dung dịch TCA vào đáy của vết sẹo để phá hủy đường biểu mô. Kỹ thuật này không cần gây mê hoặc gây tê. Tùy tính chất của sẹo mà bác sĩ sẽ quyết định nồng độ TCA (từ 65% - 100 %).  Tiếp theo là collagen hóa trong giai đoạn liền và lấp đầy vết sẹo, sự hình thành collagen có thể mất từ ​​2 đến 3 tuần và có thể tiếp tục lên đến 4 đến 6 tuần.

     Trung bình, vết sẹo sẽ cải thiện khoảng 25% với một lần thực hiện kỹ thuật. Kỹ thuật  này có thể được lặp đi lặp lại hai hoặc ba lần trong khoảng thời gian từ 2 đến 4 tuần. Ưu điểm của kỹ thuật CROSS là không làm tổn thương vùng da bên cạnh hoặc cấu trúc mô bình thường liền kề, quá trình lành nhanh hơn với tỷ lệ biến chứng thấp so với lột da hóa chất.

5/ Phẫu thuật loại bỏ sẹo lõm

               Cắt bỏ sẹo lõm: 

               Cắt bỏ sẹo theo hình tròn hay hình elip tới lớp dưới da được ưu tiên cho các vết sẹo nhỏ nhọn và sẹo lớn hình hộp sâu.  Một vết cắt nhỏ thẳng góc bề mặt da, sau đó loại bỏ sẹo và đóng kín vết cắt. Mục tiêu phẫu thuật này là loại bỏ vết sẹo lớn khó điều trị và đóng kín ngay để tạo vết nhỏ hơn sẽ mờ dần theo thời gian. Mặc dù các phẫu thuật cắt bỏ sẹo có hiệu quả chỉ sau 1 lần điều trị, nhưng bất lợi là chỉ có hiệu quả với sẹo được cắt và nó cũng có diễn biên quanh vết cắt như một vết phẫu thuật thông thường như thay đổi màu sắc, ngứa...

               Ct và nâng sẹo lõm: 

               Đục lỗ quanh sẹo để cách ly sẹo khỏi lớp mô lành xung quang. Kỹ thuật này không có rủi ro về màu da hoặc kết cấu không phù hợp như cắt sẹo lõm. Kỹ thuật này cũng chỉ dùng cho sẹo hình hộp hẹp và sâu. Sau khi sẹo đã được phân lập khỏi vùng da xung quanh, nó được nâng lên một chút so với mô tiếp giáp. Sự co lại của mảnh ghép sẽ diễn ra trong giai đoạn liền vết thương sẽ dẫn đến làm phẳng sẹo so với bề mặt da lành xung quanh.

               Cắt bỏ sẹo lõm và ghép da: 

               Đây có lẽ là phương pháp tốt nhất trong số các phương pháp phẫu thuật sẹo lõm nhỏ nhọn sâu. Nó là một kỹ thuật đòi hỏi sự tỷ mỷ và mất thời gian, thường mỗi lần sẽ thực hiện khoản 20 sẹo. Kỹ thuật được đánh giá cao vì có kết quả tốt nhất cho những vết sẹo khó xác định rõ ràng. Sẹo bị loại bỏ và được thay thế bằng một mảnh ghép da dày hơn một chút, thường lấy từ vùng hậu môn hoặc sau tai. Một số mảnh ghép sẽ liền đồng mức với bề mặt da và một số sẽ được nâng lên làm mất sẹo lõm.

               Cắt bỏ sợi xơ giải phóng sẹo lõm:

               Kỹ thuật này dùng kim chuyên dụng chèn vào dưới da đi theo nhiều hướng có các sợi xơ neo rút sẹo xuống. Kỹ thuật nay sử dụng tốt nhất cho các sẹo lõm hình chảo do mụn gây ra, nó ít hiệu quả hơn trong việc điều trị các vết sẹo hình hộp và sẹo nhỏ nhọn. Cơ chế cải thiện sẹo là giải phóng các sợi xơ bên dưới sẹo, tổ chức lại sự tưới máu trong lõm của vàhình thành mô liên kết trong vùng sẹo để làm đầy sẹo lõm. Ưu điểm của phương pháp là: dễ áp ​​dụng, rẻ tiền, thời gian thực hiện ngắn, áp dụng cho nhiều loại da khác nhau (type I-IV), không có biến chứng đáng kể và nhanh cải thiện và ổn định  lâu dài mà không gây tổn thương bề mặt da. Những bất lợi cũng bao gồm đau tại thời điểm cắt trong một số trường hợp, bầm tím, đổi màu thoáng qua, xuất huyết, mụn viêm và mụn mủ, sẹo phì đại, và có thể tái phát sẹo lõm.

6/ Điều trị sẹo lõm bằng Laser

     Laser là phương pháp điều trị hiệu quả dễ sử dụng hơn các phương thức khác.Các loại laser khác nhau, bao gồm laser không bóc bay và laser bóc bay rất hữu ích trong việc điều trị sẹo mụn, ngoại trừ vết sẹo nhỏ nhọn sâu.

     Laser bóc bay:

     Sử dụng laser CO2 làm mô bị bốc hơi nước ở độ sâu 20-60 micromet và vùng hoại tử do nhiệt từ 20-50 micromet. Năng lượng ở bước sóng 10.600 nanomet sẽ được hấp thụ bởi nước cả trong và ngoài tế bào gây nóng nhanh và bốc hơi nước của mô. Trung bì bị hấp nóng ở phía dưới vùng tác động của laser sẽ cảm ứng đáp ứng liền vết thương để tái lập collagen và kéo hẹp ngay diện tích sẹo. Sự biểu mô hóa sẽ diễn ra khoảng 5-10 ngày, các ban đỏ sẽ tồn tại vài tháng. Tác dụng phụ là thay đổi màu sắc vùng da (giảm hoặc tăng sắc tố), nhiễm trùng, tạo ra đường ranh giới giữa vùng điều trị và vùng không điều trị và cũng có thể tạo sẹo.

     Laser không bóc bay:

     Laser không bóc bay ngày càng trở nên phổ biến trong việc điều trị các vết sẹo mụn trứng cá vì chúng làm giảm nguy cơ tác dụng phụ và nhu cầu chăm sóc hậu phẫu. Các laser không bóc bay này được thiết kế để không làm tổn thương lớp biểu bì nhưng lại kích thích lớp hạ bì tạo ra collagen mới. 

     Laser diode ở bước sóng 1450nm trong phổ hồng ngoại nhắm vào nước ở lớp hạ bì, làm lại collagen dưới da, và thúc đẩy sự hình thành collagen mới. Sự tăng tổng hợp collagen và lắng đọng đã được ghi nhận cho đến sáu tháng sau khi điều trị với laser. Tác dụng của nó thường là tối thiểu, có thể bao gồm ban đỏ sau phẫu thuật, phù nề và tăng sắc tố.

     Phân tán quang điện phân đoạn (Fractional photothermolysis - FP):

     Mặc dù sự cải thiện đã được ghi nhận với laser không bóc bay, nhưng kết quả thu được không ấn tượng như kết quả từ những người sử dụng laser bóc bay. Vì lý do này, FP được thiết kế để tạo ra các vết thương nhiệt vi mô đồng nhất ở độ sâu cụ thể trong da. Từ đó, FP tạo ra một phản ứng kích thích kéo dài tổng hợp collagen mà không làm tổn hại đến lớp biểu bì để khắc phục các vấn đề liên quan đến tái tạo bề mặt da bằng laser, hay mài mòn da và lột da hóa chất.

     Hiệu quả phương pháp được ghi nhận ở cả 3 loại sẹo khác nhau. Vùng can thiệp sẽ lành hoàn toàn trong vòng 24 giờ, rất nhanh so với hai tuần khi điều trị bằng laser bóc bay.

     Kỹ thuật chiếu xạ chính xác:

     Kỹ thuật chiếu xạ chính xác đi kèm với phi kim có hiệu quả tương tự FP trong điều trị sẹo lõm do mụn. Nó tạo ra các vết thương nhiệt nhỏ để đạt được hiệu quả trẻ hóa da cho vết sẹo mụn trứng cá. Kỹ thuật này không có biến chứng như việc sử dụng các phương pháp laser kinh điển và thời gian hồi phục được rút ngắn từ 3 đến 6 ngày.

     Tất cả các điểm chiếu xạ trên mặt đều là những vệt khô nhỏ của biểu mô bị bào mòn, có thể được loại bỏ nhẹ nhàng bằng kem kháng sinh tại chỗ sau một ngày. Màu sắc của vùng vết sẹo được điều trị trở lại màu hồng hoặc bình thường trong vòng 2 đến 4 ngày. 

7/ Trị liệu ghép Nguyên bào sợi da

     Nguyên bào sợi là tế bào của lớp trung bì, chúng có nhiệm vụ tổng hợp đệm gian bào gồm các sợi collagen và elastin…làm cho da căng đầy và đàn hồi.

     Nghiên cứu công bố năm 2010 trên tạp chí “Journal Research in Medical Sciences” cho thấy cấy nguyên bào sợi tự thân nuôi cấy vào sẹo lõm và nếp nhăn cho kết quả cải thiện tới 41% sau 6 tháng và duy trì độ ổn định lâu dài.

     Để cấy ghép nguyên bào sợi, một mẩu da 4mm2 sinh thiết từ vùng sau tai và 50ml máu được thu thập. Mẫu da và máu được đưa vào hệ thống nuôi cấy chuyên biệt để phân lập và nhân rộng số lượng nguyên bào sợi. Để xóa nhăn rãnh mũi má, khi đạt được số lượng 40 triệu tế bào thì cấy ghép trở lại vùng sẹo lõm, mỗi lần cấy ghép 20 triệu tế bào vào trung bì và dưới trung bì, số lần cấy là 02 lần, mỗi lần cách nhau 2 tuần. Việc cấy ghép vào sẹo lõm thì được bác sĩ tính toán số lượng tế bào dựa trên mức độ sẹo lõm, số lượng sẹo …với quy trình tiêm tương tự.

8/ PRP và Tế bào gốc       

              Tế bào gốc: 

               Khái niệm truyền thống về liệu pháp tế bào gốc bao gồm sự phân lập tế bào gốc từ bệnh nhân, nhân rộng và biệt hóa trong ống nghiệm, và sau đó tiêm trở lại các tế bào tự thân cho bệnh nhân.  Phương pháp này tốn kém và chỉ có ở các đơn vị điều trị chuyên biệt có labo nuôi cấy tế bào. 

              Một phương pháp khác có thể thực hiện dễ dàng hơn, đó là kích hoạt và hấp dẫn các tế bào gốc trong cơ thể di cư đến sẹo lõm để tái sinh mô mới. Hiện tượng này diễn ra khi sử dụng một số chất thúc đẩy sự tăng sinh và biệt hóa tế bào. Các nguồn tế bào gốc có thể sử dụng là các tế bào gốc trung mô tủy xương, tế bào gốc mô mỡ hoặc từ máu ngoại vi. Để điều trị sẹo lõm, các tế bào này thường sử dụng nguồn tế bào gốc tự thân. 

              PRP (Huyết tương giàu tiểu cầu: 

              PRP là hỗn hợp các yếu tố thu được có nguồn gốc tiểu cầu trong máu ngoại vi. Hỗn hợp này chứa các thành phần: PDGF, ADP, ATP, Canxi, serotonin, yếu tố tiểu cầu 4, fibronectin, B-thromboglobulin, vWF, fibrinogen, TGF-beta, VEGF, yếu tố tăng trưởng biểu bì (EGF), yếu tố tăng trưởng nguyên bào sợi beta (β-FGF), (FGF-2), PF4, yếu tố dinh dưỡng thần kinh thể mi (CNTF), IGF-1, và yếu tố tăng sinh mạch (PDAF). Các nghiên cứu khác nhau đã chỉ ra rằng các yếu tố này có liên quan đến nhiều khâu cần thiết để thúc đẩy sửa chữa mô.

             PRP sau khi thu được từ máu ngoại vi sẽ được đưa trở lại vùng da có chỉ định điều trị gồm: Sẹo lõm, nếp nhăn, viêm da cơ địa, da lão hóa…bằng 2 cách. Thứ nhất là tiêm trực tiếp vào mô ở lớp trung bì hoặc ngay dưới trung bì. Thứ 2 là thông qua kênh dẫn từ ngoài bề mặt da xuống lớp sâu, cách thức này cần kết hợp với lăn kim, laser.

// //