Băng gạc chăm sóc vết thương

Chọn băng gạc chăm sóc tại chỗ vết thương sao cho phù hợp với từng vết thương, từng giai đoạn tiến triển của vết thương, bài viết dưới đây sẽ giúp bạn chọn lựa băng gạc chăm sóc tại chỗ vết thương sao cho phù hợp.
Băng gạc chăm sóc vết thương

Chăm sóc vết thương, vết bỏng trên bề mặt da bằng các loại gạc thuốc thích hợp sẽ giúp tăng nhanh quá trình biểu mô hóa, rút ngắn thời gian làm lành vết thương, giảm thiểu sự đau đớn cho người bệnh. Tổn thương trên bề mặt da có thể do nhiều nguyên nhân, bị bỏng, bị va đập hay tai nạn dẫn đến trầy xước, rách da, bị côn trùng cắn, bệnh nhân nằm lâu ngày dẫn đến bị loét các điểm tì đè.v.v… Tùy theo loại vết thương và tình trạng vết thương mà lựa chọn các loại băng gạc thuốc cho phù hợp.
 
Hiện nay, trên thị trường có rất nhiều các loại băng, gạc thuốc khác nhau được sử dụng trong điều trị, chăm sóc vết thương, vết bỏng. Chúng tôi xin giới thiệu một số nhóm băng gạc và cách sử dụng băng gạc trong chăm sóc vết thương, vết bỏng.
 
CÁC NHÓM BĂNG GẠC
1. Nhóm băng gạc tự hủy, kích thích vết thương mau lành.
Các băng gạc này được nghiên cứu, chế tạo bởi nhóm chuyên gia thuộc đại học Virginia Commonwealth ở Richmond, Mỹ. Sử dụng loại băng gạc tự hủy sẽ giúp không phải thay băng vết thương. Loại băng gạc tự hủy này về bản chất là một mạng lưới dày đặc các sợi fibrin cực nhỏ.
Trong quá trình đông máu tự nhiên, enzym thrombin đã ly giải fibrinogen thành các fibrin peptids, các đoạn ngắn protein. Sau đó enzym này lại tiếp tục tham gia vào quá trình kích hoạt việc gắn kết các fibrin peptids thành một mạng lưới các sợi protein không thể hòa tan. Mạng lưới này bảo vệ vết thương khỏi bị nhiễm trùng và ngăn chặn chảy máu.
Dựa vào nguyên lý trên, nhóm nghiên cứu đã chiết xuất protein fibrinogen từ máu bò hoặc máu người và hòa tan nó trong một dung môi hữu cơ. Sau đó, họ phun dung dịch thu được ra khỏi một kim tiêm nhiễm điện. Điện trường ngăn tia dung dịch vỡ thành các hạt nhỏ. Khi tia bay qua không khí, dung môi bốc hơi và các phân tử fibrinogen kết dính với nhau thành các sợi có kích cỡ nhỏ hơn một sợi tóc người một nghìn lần, có chiều rộng khoảng 80 phần triệu milimét. Các sợi này có độ dày gần bằng các sợi fibrinogen trong các cục máu đông bình thường. Những sợi này va vào một chiếc trống thép đang xoay tròn và tập hợp thành một mảnh rối.
Các nhà nghiên cứu lấy mảnh rối đó khi nó đạt tới độ dày khoảng 0,1mm để làm thành miếng băng vết thương. Nhóm nghiên cứu khẳng định miếng gạc fibrinogen này sẽ ngăn chặn máu chảy nhanu, làm tăng tốc quá trình lành vết thương đồng thời nó có chức năng như một giàn giáo để các tế bào hình thành mô có thể sinh trưởng và di chuyển vào trong đó.
 
2. Nhóm băng gạc có tẩm các chất kháng khuẩn.
Các chất có tính kháng khuẩn thường được sử dụng để tẩm vào các loại băng gạc là sulfadiazin bạc, nano bạc, berberin clorid, povidon iodin. Một số loại băng gạc có tẩm chất kháng khuẩn hay được sử dụng là: băng Nano Anoson, gạc Berberin clorid 1%, gạc Povidon iodin 10%.
Băng Nano Anson có cấu tạp 3 lớp. Lớp vỏ ngoài cùng đồng thời là lớp băng dính có các lỗ nhỏ giúp giữ thoáng khí. Lớp giữa là lớp bông có tính thấm hút cao, có khả năng hút các dịch tiết trên bề mặt vết thương. Lớp trong cùng có tẩm các hạt nano bạc có tác dụng sát khuẩn rất mạnh dựa trên cơ chế phá hủy các enzym đóng vai trò trong quá trình hấp thu, chuyển hóa oxy của các vi sinh vật.
Gạc Berberin clorid 1% được làm từ gạc lưới coton tẩm vaseline, lanolin và berberin clorid 1%. Vaseline có tính sơ nước giúp cản trở sự kết dính bề mặt vết thương với lớp băng gạc phủ bên ngoài. Lanolin là chất nhũ hóa giúp thuốc ngấm dễ dàng vào vết thương. Berberin clorid có tác dụng ức chế sự phát triển của nhiều loại vi khuẩn như Shigella, Bacillus cholerea, Staphylococus aureus, Bacillus paratyphi, Pseudomonas aeruginosa.
Gạc Povidon iodin được làm từ gạc lưới coton tẩm vaseline và povidon iodin. Povidon iod là phức hợp của iod hữu cơ với poly vinylpyrrolidon. Gạc tẩm Povidon iodin 10% giải phóng iod dần dần, do đó kéo dài tác dụng diệt khuẩn, nấm, virus, kén và bào tử.
 
3. Nhóm băng gạc có chứa các phần tử hydrocolloid có tính thấm hút cao giúp bảo vệ, ngăn ngừa nước và vi khuẩn xâm nhập.
Đại diện cho nhóm băng gạc này là băng Algoplaque. Băng Algoplaque được cấu tạo bởi 2 lớp. Lớp bên trong chứa các phần tử hydrocolloid được phân tán trong lớp keo dính, đàn hồi. Lớp bên ngoài là màng polyurethane không thấm nước và không cho vi khuẩn đi qua. Khi tiếp xúc với vết thương, các phần tử hydrocolloid có trong Algoplaque từ từ hấp thu dịch tiết, tạo ra gel ẩm và hình thành môi trường thuận lợi cho quá trình lành thường. Không dính vào vết thương khi thay băng. Màng Polyurethan trong suốt nên có thể theo dõi tình trạng của vết thương. Băng Algoplaque chống chỉ định trong các vết thương nhiễm trùng.
 
4. Nhóm băng gạc có tẩm các chất sơ nước, giúp giữ ẩm và làm mềm vết thương.
Loại băng gạc này được sản xuất với mục đích chính là giúp giữ ẩm, làm mềm vết thương, ngăn chặn sự kết dính của bề mặt vết thương với lớp bông băng gạc bên ngoài do đó sẽ làm giảm sự đau đớn của người bệnh khi thay băng.
Các chất có tính sơ nước, có khả năng làm mềm da hay được sử dụng cho loại băng gạc này là vaselin, dầu paraffin.
Gạc vaselin, paraffin không dính vào vết thương và vùng da xung quanh, không gây đau và không làm tổn thương vết thương khi thay băng.
 
 
CÁCH SỬ DỤNG BĂNG GẠC TRONG CHĂM SÓC VẾT THƯƠNG, VẾT BỎNG.
1. Rửa sạch vết thương, vết bỏng bằng dung dịch rửa vô trùng, nước muối 0,9%, dung dịch povidon iodin 1%, dung dịch berberin 0,1%.
 
2. Thấm khô vết thương bằng bông hút vô trùng.
 
3. Bôi một lớp kem thuốc lên bề mặt vết thương, tùy theo giai đoạn của vết thương mà có chỉ định phù hợp.
 
4. Đặt một miếng gạc thuốc, gạc vaselin, gạc berberin 1%, gạc povidon iodin 10%, gạc sulfadiazin bạc…, lên bề mặt vết thương. Kích cỡ miếng gạc rộng hơn miệng vết thương khoảng 1-2cm. Những loại gạc thuốc này có tính sơ nước nên có khả năng bóc tách dễ dàng ra khỏi bề mặt vết thương, giúp làm giảm thiểu sự đau đớn cho người bệnh khi thay băng.
 
5. Đặt khoảng 4-5 lớp gạc hút bao phủ ra bên ngoài miếng gạc thuốc. Sau đó dùng băng cuộn hoặc băng dính để băng vết thương lại.
 
Định kỳ thay băng vết thương theo 5 bước trên.

// //